Tổng quan về Bệnh Đột Quỵ

Ngày đăng: 17-10-2019

Hàng năm, trên thế giới vẫn có hàng trăm người tử vong vì bệnh đột quỵ. Chứng bệnh này được xem là nguy hiểm chỉ xếp sau ung thư và tim mạch. Bệnh đột quỵ xảy ra khá bất ngờ khiến người thân không kịp trở tay và để lại di chứng hoặc tỉ lệ tử vong cao. Do đó, những ai có nguy cơ gặp phải đột quỵ trong tương lai cần hiểu rõ về bệnh và cách điều trị để tránh những đáng tiếc bất ngờ xảy ra.

Bệnh đột quỵ xảy ra bất ngờ và để lại di chứng nặng nề và tỉ lệ tử vong cao

Bệnh đột quỵ xảy ra bất ngờ và để lại di chứng nặng nề và tỉ lệ tử vong cao

Bệnh đột quỵ là gì ?

     Đột quỵ còn được gọi là tai biến mạch máu não, dùng chung để chỉ 1 phần tổn thương của não bộ do tắc nghẽn mạch máu đi nuôi não hay vỡ mạch máu. Bộ não cần được cung cấp oxy thường xuyên để có thể hoạt động được nên một khi động mạch dẫn máu đi nuôi não bộ bị cản trở, máu không nên được thì vùng não đó sẽ ngưng hoạt động. Đột quỵ nguy hiểm  là vì nếu không được cấp cứu kịp thời thì vùng não này sẽ chết, dừng chức năng vĩnh viễn, gọi là nhồi máu não. Đây là tình trạng nghiêm trọng nhất của đột quỵ, gây liệt nửa người, hôn mê hoặc tử vong. Theo các thống kê, hơn 80% ca đột quỵ là do nhồi máu não, để lại những di chứng nặng nề như tàn tật vĩnh viễn. Đây cũng được xem là chứng bệnh có tỷ lệ tử vong nhanh chỉ đứng sau ung thư và các bệnh tim mạch. Trong những người đột quỵ thì có khoảng 50% là có thể phục hồi lại các chức năng bị liệt, 50% còn lại thường để lại di chứng nặng nề.

   Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa đột quỵ là một hội chứng lâm sàng được đặc trưng bởi triệu chứng đột ngột tổn thương ở não bộ, tồn tại trên 24 giờ hoặc tử vong trước 24 giờ.

   Trong gần 75% các trường hợp đột quỵ,  nguyên nhân chính là do máu nghẽn cục ở một trong các động mạch dẫn máu lưu thông đến não. Lý do thứ hai thường là thành động mạch bị vỡ khiến máu rỉ ra các mô chung quanh (gọi là xuất huyết). Sự cố này làm tăng áp lực lên não, hủy hoại một số tế bào và khiến các mô ở phía bên kia động mạch vỡ nằm trong tuyến máu lưu thông ngừng hoạt động vì không có máu để duy trì chức năng của chúng.

   Lượng máu cung cấp đến một vùng não cũng có thể bị ngắt chỉ một thời gian ngắn nào đó mà không hoàn toàn gây đột quỵ. Tình huống này có thể chỉ xảy ra một lần duy nhất hay tái đi tái lại nhiều lần. Nếu các triệu chứng kéo dài dưới 24 tiếng đồng hồ người ta gọi đó là cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua (TIA) hay tiểu đột quỵ. Tuy nhiên hiện nay các bác sĩ đã biết thêm rằng bất cứ trường hợp nghẽn máu nào kéo dài hơn một giờ đều để lại sẹo trên vùng não vì thế định nghĩa (TIA) như vừa đề cập cũng cần phải thêm vào cho đầy đủ. Đôi mắt của chúng ta được cung cấp máu qua cùng một đường động mạch cấp máu cho não nên những cơn đột quỵ TIA có thể làm ảnh hưởng đến việc cung cấp máu cho một mắt, gây ra tình trạng một bên mắt bị mờ đi hay mất thị giác tạm thời, theo thuật ngữ chuyên môn, tình trạng này được gọi là thông manh (mù mắt) giai đoạn (AFX) hay bán manh tức mù một mắt ngắn hạn (TMB).

   Bệnh đột quỵ não sẽ có 4 đặc điểm: Đột ngột, trong điều kiện bệnh nhân đang hoàn toàn khỏe mạnh bình thường. Tổn thương chức năng của não; liệt chân tay một bên, liệt mặt, tê bì nửa người, nói ngọng - nói khó, lú lẫn...; Bệnh nhân có thể tử vong trước 24 giờ do tổn thương mạch máu não.

 

Hai thể của bệnh đột quỵ não

Nhồi máu: do nghẽn, tắc động mạch não.

Chảy máu: do vỡ thành động mạch, máu tràn ra khỏi lòng mạch.

Nguyên nhân gây ra bệnh đột quỵ não là do mạch máu cấp máu cho não bị tổn thương, đột quỵ não được chia thành 2 thể chính:

Bệnh đột quỵ nhồi máu não: do hẹp hoặc tắc động mạch não, dẫn tới vùng não bị giảm hoặc ngừng cấp máu dẫn tới tổn thương.

Bệnh đột quỵ chảy máu não: do mạch máu bị vỡ ra, máu chảy tràn vào tổ chức não hoặc các khoang chứa dịch bao quanh tổ chức não.

Bệnh đột quỵ não là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 2 sau các bệnh tim mạch và ung thư. Điều trị cũng đòi hỏi thời gian lâu dài, rất tốn kém.

Bệnh đột quỵ não là bệnh để lại nhiều di chứng nặng nề nhất trong các bệnh nội khoa.

Người bị cao huyết áp có tỉ lệ mắc đột quỵ cao hơn

Người bị cao huyết áp có tỉ lệ mắc đột quỵ cao hơn 

 

Bệnh đột quỵ não mức độ nhẹ:

Đề lại di chứng ít và nhẹ như liệt nửa người: thường bắt đầu hồi phục sau 2-4 tuần và kéo dài nhiều tháng tiếp sau;

Co cứng cơ: sau khoảng 4-6 tuần thì chuyển sang giai đoạn liệt cứng (cơ vùng liệt tăng trương lực) gây vận động khó khăn, đau nhức cơ khớp. Đặc biệt hay gặp đau khớp vai;

Rối loạn ngôn ngữ: nói khó hơn bình thường hoặc không hiểu lời nói.

 

Các trường hợp đột quỵ mức độ nặng, di chứng nhiều và rất nặng nề:

Rối loạn ý thức: tri giác, trí nhớ suy giảm; Rối loạn tâm thần, trầm cảm; Suy dinh dưỡng.

Viêm phổi: nguyên nhân do bệnh nhân nằm một chỗ do liệt, suy giảm sức đề kháng, dễ nuốt sặc…

Loét vùng tì đè: những vùng bị tì đè trực tiếp xuống mặt giường khi nằm rất dễ bị loét như gót chân, vùng xương cùng cụt, vùng lưng, vùng chẩm.

Đại tiện và tiểu tiện không tự chủ.

Một số hậu quả khác: co giật động kinh; huyết khối tĩnh mạch sâu; biến dạng tư thế; tăng huyết áp; loạn nhịp tim…

Đặc biệt với bệnh nhân đã bị đột quỵ não thì nguy cơ bị đột quỵ tái diễn rất cao so với người chưa từng bị đột quỵ.

 

Những tác hại của cơn đột quỵ

Ảnh hưởng do đột quỵ gây ra đối với não gần như cũng tương tự như bất kỳ nguyên nhân tác động nào khác gây ra cho não. Khi một phần não bị ngưng cung cấp máu, các tế bào sẽ đói oxy và ngừng hoạt động. Nếu trong thời gian khoảng 4 phút việc cung cấp máu không tiếp tục lại được thì các tế bào sẽ chết (chứng nhồi máu não). Những hậu quả về thể lý và tinh thần sau một cơn đột quỵ xảy ra như thế nào là tùy thuộc vào phần não bị ảnh hưởng.

Não bao gồm nhiều phần riêng biệt và mỗi phần điều khiển các chức năng vận động, lời nói và thị giác tương ứng. Những trung tâm điều khiển này gồm các tế bào thần kinh (gọi là nơron) và mỗi tế bào đều có chức năng chuyên biệt. Chẳng hạn, các chuỗi nơron nối mắt xích với nhau sẽ điều khiển mọi chuyển động của cơ bắp.

 

Mỗi nơron gồm ba phần: các đuôi gai phân nhánh, thân tế bào và trục. Các đuôi gai phân nhánh có chức năng tiếp nhận tín hiệu để chuyển vào thân tế bào. Thân tế bào sẽ quyết định việc thực hiện hành vi và truyền mệnh lệnh đến tế bào nơron kế tiếp thông qua đường sợi trục. Nhưng nếu bất cứ phần công đoạn nào trong chuỗi mắt xích này bị ngắt - như trong trường hợp xảy ra đột quỵ, một khu vực tế bào thần kinh bị chết - thì toàn bộ hệ thống thần kinh này sẽ ngừng hoạt động và chức năng mà nó điều khiển - như chức năng vận động hay lời nói - sẽ bị mất đi.

 

Đột quỵ não giả là gì? 

Đột quỵ não là một bệnh lý hay gặp và phải được chú ý phát hiện sớm để điều trị tích cực nhằm làm giảm tỷ lệ tử vong và di chứng.

 Tuy nhiên, có một số loại bệnh lý mà biểu hiện cũng khá giống với đột quỵ não.

Cơn co giật

Nếu cơn co giật khởi phát cục bộ ở não, bệnh nhân có thể bị liệt nhẹ, tê bì, rối loạn ngôn ngữ, nhìn mờ, rối loạn ý thức kiểu “hoàng hôn sau động kinh”. Nhìn chung, các triệu chứng này sẽ hết sau 24 tiếng và bệnh nhân sẽ trở lại bình thường. Sẽ rất dễ phân biệt nếu bệnh nhân đã có tiền sử bị co giật và các biểu hiện như trên phục hồi nhanh. Nhưng lại rất khó phân biệt với trường hợp tai biến mạch não thoáng qua hoặc bệnh nhân bị đột quỵ não thực sự có kèm co giật.

Máu tụ dưới màng cứng cũng có thể gây yếu, tê bì nửa người như đột quỵ não nhưng các biểu hiện thường không rõ ràng.

 

Chứng đau nửa đầu (bệnh migraine)

Migraine là chứng đau nửa đầu do rối loạn vận mạch, thường xảy ra ở phụ nữ trẻ. Phần lớn những cơn migraine điển hình thường chỉ có đau đầu, nôn, buồn nôn và các triệu chứng sẽ hết nhanh khi được điều trị nhưng nhiều trường hợp bệnh nhân đau đầu kiểu migraine có biến chứng cũng có nguy cơ cao bị đột quỵ não.

 

Ở những bệnh nhân này thường kèm liệt nhẹ hoặc tê bì nửa người cùng bên, có rối loạn thị giác hoặc thất ngôn. Trong nhiều trường hợp, đột quỵ não cũng khởi phát bằng những cơn đau đầu hoặc đau nửa đầu dữ dội, sau đó mới có các biểu hiện khác như rối loạn ý thức, liệt chi, thất ngôn... Vì vậy cần hết sức cảnh giác để có phương án chẩn đoán và xử trí thích hợp.

 

Ngất

            Ngất là hiện tượng mất ý thức tạm thời (bệnh nhân hoàn toàn mất mối liên hệ với môi trường chung quanh) và sau đó ý thức phục hồi hoàn toàn. Sau khi tỉnh, bệnh nhân không biết gì về những hoạt động chung quanh xảy ra trong ccm ngất. Ngất có thể kèm với mất trương lực cơ (liệt cơ) tạm thời và đột ngột.

Đôi khi nguyên nhân ngất là do tim mạch như tụt huyết áp, rối loạn nhịp tim hoặc không do nguyên nhân tim mạch như một số tình huống như những stress tâm lý quá mạnh, kích thích vào đám rối dương (vùng thượng vị) khi bị chấn thương, ngất

Ở bệnh nhân thiếu máu nặng, một số các rối loạn về điện giải (như kali, canxi máu), các thuốc điều trị bệnh tim mạch, phụ nữ có thai...

Liệt dây thần kinh số VII làm mất khả năng nhắm mắt và méo miệng có triệu chứng giống như đột quỵ liên quan đến tổn thương cầu não.

 

Đột quỵ não hiếm khi biểu hiện bằng ngất trừ trường hợp đột quỵ não do thiểu năng hệ động mạch sống nền nhưng luôn kèm với các biểu hiện khác của tổn thương thân não hoặc tiểu não.

 

Thay đổi đường huyết

Đường huyết quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng đến thị lực, đặc biệt nếu bạn có bệnh đái tháo đường và không dùng thuốc, ví dụ insulin, hoặc nếu bạn uống quá nhiều thuốc. Nó cũng có thể khiến bạn cảm thấy bị lú lẫn, giống với triệu chứng đột quỵ.

 

Đặc biệt khi hạ đường huyết xuống thấp dưới 3,5mmol/l, các triệu chứng xảy ra rất giống với đột quỵ, não như co giật, hôn mê. Vì vậy, trước bất cứ một trường hợp nào có rối loạn ý thức, hôn mê ở các mức độ khác nhau, cần phải làm xét nghiệm đường máu để kiểm tra. Sau đó điều trị bằng truyền đường nếu trị số đường máu thấp dưới mức bình thường.

 

Bệnh não chuyển hóa

Bệnh nhân bị rối loạn ý thức ở các mức độ khác nhau nhưng không kèm các triệu chứng thần kinh khu trú khác nổi bật. Nguyên nhân thường gặp là hôn mê do suy gan, hôn mê toan ceton, hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu máu... Loại hôn mê này rất thường gặp trên thực tế và rất cần phải phân biệt với đột quỵ não.

 

Viêm não do Herpes sỉmplex

Do vi-rút gây tổn thương thùy thái dương nên hay có biểu hiện thất ngôn, rối loạn ý thức, đau đầu, mất thị trường mắt hoặc liệt nửa người, khởi phát nhanh và tương đối giống đột quỵ não ở giai đoạn sớm của bệnh.

 

Liệt dây thần kinh số VII ngoại biên

Có triệu chứng liệt trán và mất khả năng nhắm mắt cùng bên dây số VII tổn thương. Triệu chứng này giống như do đột quỵ có liên quan đến tổn thương cầu não nên cần phải khám kỹ để phát hiện các triệu chứng khác của đột quỵ như liệt dây thần kinh số VI cùng bên...

Nhiều bệnh lý có biểu hiện giống như đột quỵ não, đó là đột quỵ não giả.

 

Máu tụ dưới màng cứng

Máu tụ dưới màng cứng cũng có thể gây yếu, tê bì nửa người như đột quỵ não nhưng các biểu hiện thường không rõ ràng. Máu tụ dưới màng cứng mạn tính thường xảy ra ở người già, người nghiện rượu, người có rối loạn đông máu hoặc những bệnh nhân sa sút trí tuệ.

 

Trúng gió và đột quỵ não

Trúng gió thường bị nhầm với đột quỵ nhiều nhất vì chúng có chung một số triệu chứng như nhức đầu, chóng mặt. Các bạn nên nhớ rằng đột quỵ diễn ra rất nhanh và nếu nếu không phát hiện kịp thời người bệnh sẽ đối mặt với nguy cơ tử vong hoặc tàn tật suốt đời còn trúng gió chỉ là hiện tượng những người có sức đề kháng yếu, khi thời tiết thay đổi cơ thể họ không kịp thích ứng nên có hiện tượng người mệt mỏi, chóng mặt hoặc bị cảm lạnh.

 

Huyết áp cao

Nếu huyết áp của bạn cao có thể gây nhức đầu, cảm thấy yếu, và rối loạn thị lực. Đây còn được gọi là “tăng huyết áp không kiểm soát”. Nó cũng là một yếu tố nguy cơ chính đối với đột quỵ. Hầu hết mọi người có huyết áp bình thường với trị số < 120/80mmHg>.

 

Lo lắng

Cũng có thể làm bạn cảm thấy tê cứng quanh miệng hoặc đầu ngón tay.

 

Nhức đầu

Nếu bạn từng bị nhức đầu âm ỉ, hoặc bạn cảm thấy như có gì đó siết chặt quanh đầu bạn, thì đó có thể là nhức đầu do căng thẳng.

Nếu bạn bị nhức đầu từ mức độ vừa tới nặng và tính chất khác hoàn toàn với những lần trước đó, thì bạn cần phải quan tâm, chú ý.

 

Một số các trường hợp khác

Một số trường hợp khác cũng cần phân biệt với một đột quỵ não thực sự như u não; bệnh lý liệt thần kinh ngoại vi; dị cảm; ngộ độc các thuốc an thần gây ngủ hoặc các loại thuốc, hóa chất gây co giật, ngộ độc methanol...; bệnh lý tâm thần...

 

Đột quỵ và tai biến mạch máu não: tuy hai mà một

Hai tên gọi của một bệnh cảnh

Rất nhiều người vẫn còn cho rằng “tai biến mạch máu não và đột quỵ là hai bệnh khác nhau”, “đột quỵ là bệnh của tim không liên quan đến não và thường xảy ra ở người trẻ”, “tai biến chỉ xảy ra ở người già”... Đây là những quan niệm chưa đúng dẫn đến việc quan tâm, phòng ngừa chưa đúng mực và chủ quan, lơ là trong kiểm soát bệnh.

 

Thực chất, tai biến mạch máu não và đột quỵ chỉ là hai tên gọi khác nhau của cùng một bệnh. Nếu như thuật ngữ tai biến mạch máu não chỉ ra nơi khởi phát bệnh là tại các mạch máu nuôi não khi dòng máu bị chặn lại hoặc một mạch máu trong não bị vỡ thì đột quỵ nói lên sự cấp tính của bệnh. Dù vậy, cả hai cách gọi đều biểu thị tính chất đột ngột, nguy hiểm của bệnh, có thể khiến một người đang bình thường bỗng dưng gục xuống, hôn mê, đối mặt với các di chứng tàn tật, thậm chí tử vong.

 

Tại nước ta, số người bị đột quỵ - tai biến mạch máu não không ngừng gia tăng với khoảng 200.000 người mắc mới, 90% trong số đó mang di chứng. Nguy hiểm hơn, bệnh nhân còn phải đối mặt với nguy cơ tái phát bệnh và tử vong cao. Bệnh có thể xảy ra ở cả người già, người trẻ; thành thị đến nông thôn; doanh nhân, nhân viên văn phòng hay nông dân... Những năm gần đây đột quỵ - tai biến mạch máu não được ghi nhận ngày càng trẻ hóa, nhiều bệnh viện, đơn vị đột quỵ thậm chí còn tiếp nhận những trường hợp tai biến khi mới 18, 20 tuổi.

 

Sở dĩ, tỉ lệ đột quỵ - tai biến mạch máu não cao hơn ở người cao tuổi là do chức năng cơ thể suy giảm và thường có bệnh mãn tính đi kèm như: tim mạch, tiểu đường, cao huyết áp, rối loạn mỡ máu...

 

Trong khi đó, đa phần người trẻ thường phải chịu nhiều áp lực trong cuộc sống, công việc dẫn đến căng thẳng, mất ngủ thường xuyên. Ngoài ra, lối sống không lành mạnh như lạm dụng rượu bia, hút thuốc lá, chế độ dinh dưỡng mất cân đối và thói quen lười vận động đã tác động không nhỏ đến nguy cơ xuất hiện đột quỵ.

Lý giải ở góc độ nguyên nhân sâu xa hơn, các nhà khoa học cho rằng, đột quỵ ở người già và người trẻ đều có sự tác động từ “thủ phạm” gốc tự do. Gốc tự do sinh ra do ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc sống hiện đại và trong quá trình chuyển hóa của cơ thể, đặc biệt là tại não. Chúng tấn công làm tổn thương nội mạc mạch máu, khiến thành mạch không còn trơn tru, xuất hiện các mảng xơ vữa và cục huyết khối gây ra gây tắc mạch, dẫn đến hiện tượng thiếu máu não thoáng qua. Thời gian bị tắc kéo dài 4 - 5 phút sẽ khiến tế bào thần kinh tại các vùng não không được cung cấp oxy và dưỡng chất sẽ suy yếu dần và hoại tử, dẫn đến cơn đột quỵ não.

Biến chứng sau đột quỵ và cách phục hồi sau đột quỵ

            Phục hồi diễn ra phần lớn trong 3 - 6 tháng đầu... Bệnh nhân không nên mất hy vọng nếu bị liệt vận động nặng.

 

           Làm thế nào để phòng tránh được các biến chứng sau đột quỵ là vấn đề mà rất nhiều bệnh nhân bị đột quỵ quan tâm. Theo TS Mai Duy Tôn, Khoa Hồi sức Cấp cứu A9 - Bệnh viện Bạch Mai, người bị đột quỵ thường gặp phải những vấn đề sau đây:

 

Loét da do bất động 

           Triệu chứng này thường gặp ở các bệnh nhân bị liệt vận động nặng hoặc hôn mê sau đột quỵ. Việc tập vận động sớm, thay đổi tư thế nằm của bệnh nhân thường xuyên (từ 1 - 2 giờ) và sử dụng các loại nệm có bơm hơi có tác dụng tốt trong việc hạn chế biến chứng này.

 

Viêm phổi, do hít sặc

           Đây là nguyên nhân có thể gây tử vong sau đột quỵ. Nó thường gặp ở các bệnh nhân bị hôn mê, hoặc mất chức năng nuốt. Sau khi đánh giá chức năng nuốt, thầy thuốc có thể chỉ định đặt ống nuôi ăn khi cần thiết. Đối với các bệnh nhân bị rối loạn chức năng nuốt lâu dài, việc mở dạ dày ra để đưa thức ăn trực tiếp vào dạ dày qua thành bụng có tác dụng hạn chế nguy cơ viêm phổi do hít sặc với độ an toàn cao.

 

           Khi cho ăn qua đường ống, dung dịch dinh dưỡng nên được truyền nhỏ giọt qua ống nuôi ăn, cần cho bệnh nhân nằm ở tư thế đầu cao, và duy trì tư thế này sau khi ăn ít nhất 1 giờ sau đó.

 

Phục hồi vận động sau đột quỵ

           Hồi phục sau một cơn đột quỵ là một quá trình xảy ra tự nhiên. Một phần ba bệnh nhân đột quỵ có thể phục hồi các chức năng vận động một cách hoàn toàn, 1/3 cải thiện chức năng vận động một phần, và 1/3 còn lại không có cải thiện.

 

           Quá trình phục hồi vận động xảy ra phần lớn trong 3 - 6 tháng đầu, và có thể tiếp tục cho đến 2 năm hoặc hơn. Vì vậy, bệnh nhân không nên mất hy vọng nếu bị liệt vận động nặng. Sau đột quỵ, nên bắt đầu điều trị phục hồi các chức năng vận động tại thời điểm sớm nhất khi có thể.

 

           Mục tiêu của việc tập phục hồi chức năng với sự trợ giúp của kỹ thuật viên vật lý trị liệu, bao gồm:

-          Phục hồi các chức năng vận động tại phần cơ thể bị liệt: tập ngồi, đứng, đi bộ...

-          Phục hồi các chức năng khác: ăn uống (chức năng nuốt), ngôn ngữ giao tiếp, tự thay quần áo, tắm rửa...

 

-          Cải thiện các rối loạn về mặt tâm thần, cảm xúc.

 

Tái phát sau đột quỵ

           Tỷ lệ đột quỵ tái phát trong 5 năm đầu tiên là 25%, nghĩa là cứ 100 bệnh nhân sống sót sau đột quỵ, sẽ có 25 trường hợp bị tái phát sau đó. Để làm giảm mức độ tái phát đột quỵ, người bệnh cần uống thuốc đúng theo toa bác sĩ và đi tái khám đều đặn. Không ai có thể bảo đảm đột quỵ tái phát sẽ không xảy ra, nhưng khả năng tái phát có thể giảm thiểu tối đa bằng chế độ điều trị thích hợp, liên tục, và được duy trì một cách lâu dài.

 

Các yếu tố nguy cơ của đột quỵ có thể điều chỉnh với chế độ điều trị hợp lý:

-          Cao huyết áp

-          Hút thuốc lá 

-          Bệnh tim mạch

-          Nghiện rượu

-          Béo phì

-          Tiểu đường

-          Sử dụng thuốc ngừa thai

-          Tình trạng căng thẳng (stress).

Làm giảm nguy cơ tái phát đột quỵ bằng cách nào? Có nhiều cách để có thể làm giảm nguy cơ tái phát của đột quỵ. Trong đó là kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ và thay đổi chế độ sống. Các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của đột quỵ là cao huyết áp, bệnh tim, tiểu đường và hút thuốc lá.

 

Kiểm tra sức khỏe thường xuyên

Bệnh lý tim mạch, cao huyết áp, tiểu đường, tăng hàm lượng mỡ trong máu cần được theo dõi thường xuyên bởi bác sĩ chuyên khoa. Các yếu tố nguy cơ này sẽ được giảm bớt một cách tối đa bằng các thuốc điều trị thích hợp và thay đổi lối sống.

 

Kiểm soát huyết áp

Huyết áp ở mức 120/80 mmHg là trị số bình thường. Được gọi là cao huyết áp khi huyết áp cao hơn 140/90 mmHg. Cao huyết áp là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của đột quỵ. Nếu không kiểm soát tốt tình trạng huyết áp, nguy cơ đột quỵ tái phát sẽ rất cao.

 

Bệnh nhân bị cao huyết áp có nguy cơ đột quỵ cao gấp 4 - 6 lần so với bệnh nhân có huyết áp bình thường. Cao huyết áp làm nặng thêm tình trạng xơ vữa mạch máu, gây tăng áp lực lên thành mạch máu, và có thể làm vỡ mạch máu.

 

Kiểm soát huyết áp bao gồm chế độ ăn ít muối, giảm cân, giảm stress, và uống các thuốc thích hợp. Cần lưu ý rằng các thuốc huyết áp chỉ có tác dụng khi được sử dụng thường xuyên mỗi ngày. Không nên tự ý ngưng thuốc khi không có ý kiến của bác sĩ. Nếu cao huyết áp được kiểm soát tốt, sẽ làm giảm được 38% nguy cơ đột quỵ và giảm 40% nguy cơ tử vong gây ra do đột quỵ.

 

Bệnh tim

Là nguy cơ quan trọng thứ hai sau cao huyết áp, bệnh lý tim nguy hiểm nhất liên quan đến đột quỵ là rung nhĩ. Rung nhĩ là tình trạng co bóp bất thường của tâm nhĩ trái, ở bệnh nhân rung nhĩ, tâm nhĩ trái co bóp nhanh gấp 4 lần so với các buồng tim còn lại. Điều này dẫn đến sự bất thường của dòng chảy trong các mạch máu, tạo điều kiện tạo thành các cục huyết khối trong buồng tim và nhanh chóng di chuyển đi nơi khác, có thể gây tắc nghẽn các mạch máu não.

 

Sử dụng thuốc kháng đông lâu dài có thể làm giảm 67% nguy cơ gây ra đột quỵ tái phát của rung nhĩ.

 

Tiểu đường

Khi bệnh nhân có bệnh tiểu đường, nguy cơ mắc phải đột quỵ sẽ tăng gấp 3 lần. Chế độ ăn phù hợp để tiết chế lượng đường trong máu, đồng thời sử dụng các thuốc điều chỉnh đường huyết có thể giúp người bệnh hạn chế tối đa các biến chứng của tiểu đường.

 

Tăng cholesterol trong máu

Tăng cholesterol trong máu có thể dẫn đến tình trạng ứ đọng của cholesterol lên thành của các mạch máu, từ đó tạo thành các mảng xơ vữa. Kiểm soát tốt hàm lượng cholesterol trong máu bằng chế độ ăn thích hợp (kiêng mỡ, các loại dầu ăn và các thức ăn giàu cholesterol), tập thể dục thường xuyên và sử dụng các loại thuốc chuyên biệt có thể làm giảm nguy cơ đột quỵ.

 

Ngưng hút thuốc lá

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ rất nguy hiểm của đột quỵ. Thuốc lá làm tăng thêm quá trình xơ vữa mạch máu và các chất gây đông máu (như fibrinogen). Việc ngừng hút thuốc lá có thể làm giảm rõ rệt nguy cơ đột quỵ tái phát.

 

Sử dụng thuốc ngừa thai

Các thuốc ngừa thai, đặc biệt những loại chứa hàm lượng estrogen cao, có khả năng làm tăng nguy cơ tạo huyết khối. Bệnh nhân có thể tham khảo với bác sĩ sản khoa để có cách thay đổi phương pháp ngừa thai khác nếu bệnh nhân có kèm theo các nguy cơ đột quỵ khác.

 

Giảm stress

Cuộc sống với nhiều áp lực thường xuyên làm tăng huyết áp và có thể dẫn đến đột quỵ. Biết giải tỏa các áp lực trong công việc, tạo một cuộc sống lành mạnh bên người thân và gia đình có thể là phương pháp giảm stress hữu hiệu nhất.

 

Thay đổi chế độ ăn

Chế độ ăn nhiều chất béo, cholesterol và muối có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ. Bác sĩ Mai Duy Tôn cũng đưa ra lời khuyên là các bệnh nhân cần tuân thủ chế độ ăn hợp lý như sau:

 

-          Tránh ăn quá nhiều chất béo: Các chất béo, cholesterol có thể làm nặng thêm tình trạng xơ vữa động mạch. Hạn chế sử dụng các dầu mỡ khi nấu ăn, nên bỏ phần mỡ và da của các loại thịt, dùng các thức ăn có hàm lượng chất béo, thức ăn chế biến bằng cách nướng hay hấp tốt hơn chiên xào, không ăn quá 3 quả trứng trong một tuần.

 

-          Giảm muối: ăn quá mặn có thể làm tăng huyết áp. Không sử dụng muối trên bàn ăn thêm vào thức ăn đã được chế biến.

-          Hạn chế uống rượu, bia: uống nhiều bia, rượu thường xuyên có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ. Nên hạn chế việc sử dụng các loại bia rượu, đặc biệt khi bệnh nhân có tình trạng cao huyết áp kèm theo.

 

Giảm cân

-          Tình trạng béo phì có liên quan đến các bệnh lý cao huyết áp, tim mạch, tiểu đường và đột quỵ. Duy trì trọng lượng vừa phải bằng chế độ ăn hợp lý và tập thể dục thường xuyên có thể làm giảm nguy cơ đột quỵ.