Tìm hiểu về u ruột thừa

Ngày đăng: 22-10-2019

U ruột thừa rất hiếm gặp, chiếm dưới 4% của các bệnh lý của hệ tiêu hóa. Tỷ lệ nam/nữ là 3/1 và  thường được phát hiện ở độ tuổi khoảng 60-70 tuổi. Trong 40 năm nghiên cứu, hơn 7100 bệnh phẩm ruột thừa được cắt ra, Collin tìm thấy 958 khối u ác tính với tỷ lệ 1,35%. Trong 23 năm nghiên cứu với 8699 mẫu ruột thừa, Schmutzer và cộng sự đã báo cáo tổng cộng 101 u (1,2%) với 60 u ác tính (0,7%).

Năm 1943, Uihlein và McDonal phân loại u ác tính ruột thừa thành 3 loại dựa theo hình thái: u carcinoid, u nhầy ác tính và adenocarcinoma. Theo Colli, u carcinoid khoảng 51% trong các u ác tính ruột thừa được tìm thấy, tiếp theo đó là u ác hiếm thấy như sarcoma.

Dưới đây là bài viết khái quát về bệnh u ruột thừa mà người bệnh nên quan tâm, mời bạn đọc cùng tham khảo: 

bệnh u ruột thừa rất nguy hiểm tới tính mạng người bênh

U ruột thừa rất nguy hiểm tới tính mạng người bệnh

1. Triệu chứng Lâm sàng

Theo y văn, phần lớn các trường hợp ung thư ruột thừa có triệu chứng đầu tiên của viêm ruột thừa cấp. Khoảng 50% trường hợp ung thư ruột thừa đã thủng. Trong các trường hợp khác triệu chứng đầu tiên được phát hiện là khối ở hố chậu phải. Trong các trường hợp khác triệu chứng đầu tiên được phát hiện là một khối ở hố chậu phải. Trong vài trường hợp triệu chứng đầu tiên là đau bụng. Chỉ khoảng 10 đến 20% các trường hợp ung thư ruột thừa được phát hiện tình cờ khi phẫu thuật vào ổ bụng vì một nguyên nhân khác.

2. Chẩn đoán giải phẫu bệnh và hướng điều trị 

 Tổn thương u ruột thừa thường được xếp các loại như sau: Carcinoid khoảng 66%; Cystadeno-carcinoma 20%; Adenocarcinoma 10%; Adenocarcinoid: hiếm; Linits plastica: rất hiếm.

Giải phẫu bệnh của u ác tính ruột thừa:

Carcinoid chiếm tỷ lệ ⅔

Adennocarcinoms chiếm ⅓

U carcinoid: U carcinoid là một u ác tính thường gặp, chiếm 32-77% các trường hợp tân sinh ở ruột thừa. Nghiên cứu của SEER (surveillance, epidemiology, and end result) cho thấy có sự khác biệt về giới tính trong u carcinoid: U xuất hiện phần lớn ở nữ (chiếm 68% trường hợp). Tương tự, Roggo và cộng sự trong phân tích hồi cứu 41 trường hợp u carcinoid ruột thừa thì tỷ lệ nữ mắc là 80,5%. Bệnh phát hiện ở nữ giới có liên quan đến tình trạng viêm nhiễm vùng chậu. Độ tuổi phát hiện bệnh trường trong khoảng 32-42.

Về đại thể, khối u có nhiều nốt vàng nhỏ. Phân tích mô học cho thấy các tế bào nhỏ, đồng dạng có một nhân trung tâm. Hầu hết các carcinoid đều xâm lấn lớp cơ của thành ruột thừa, vào mạch bạch nằm gần đó và cho di căn. U dưới 2 cm đường kính rất hiếm cho di căn xa, mà u carcinoid ruột thừa có kích thước lớn cũng hiếm nên tỷ lệ di căn của u này chỉ khoảng 1,3-4,7%.

Phần lớn u carcinoid ruột thừa được điều trị bằng cắt ruột thừa. Khuyến cáo cho rằng: đối với u <2cm thì chỉ cần cắt bỏ ruột thừa, nếu u >2cm thì nên cắt bên phải của đại tràng. Nhiều tác giả đề nghị nên cắt bên phải đại tràng nếu u có kích thước từ 1,5-2cm hay u xâm lấn vào lớp cơ ruột thừa (>3mm).

U cũng tìm thấy ở trẻ em (bệnh nhân nhỏ nhất là 3 tuổi), khối u lớn nhất là 1,2cm, hơn 65% u đã xâm lấn lớp cơ và thành mạc ruột thừa, việc điều trị chỉ là cắt ruột thừa và không phát hiện bệnh tái phát sau đó. Như vậy, với trẻ em có u carcinoid ruột thừa dưới 2cm, cắt ruột thừa là một phương pháp điều trị thích hợp nhất.

3. U nhầy ruột thừa

Theo hệ thống phân loại ban đầu của Uihlein và McDonald, u nhầy ruột thừa là một trong ba loại u ác tính ở ruột thừa. nhiều tác giả sử dụng hệ thống phân loại dựa trên phân tích mô học hơn là sự hiện diện của nang. Theo hệ thống này, u nhầy ruột thừa được phân thành u nhầy đơn giản (tắc nghẽn) và u nhầy tăng sinh biểu mô. U tăng sinh lành tính có thể khu trú (như adenoma kiểu đại tràng) hay lan tỏa (như u tuyến nhầy, u nang nhầy). Nhóm tăng sinh ác tính có thể được phân thành adenocarcinoma kiểu đại tràng, u nang tuyến nhầy mucinius cystadenocarcinoma, hay u hỗn hợp carcinoid-adenocarcinoma. U lành nhầy ruột thừa thường đưa đến giả u nhầy phúc mạc: Là tình trạng khoang phúc mạc chứa một lượng lớn dịch nhầy so sự xâm lấn của u nang tuyến nhầy.

Mặc dù phần lớn u nhầy ruột thừa thường được chẩn đoán ngẫu nhiên khi mở bụng, nhưng u mucinous cystadenoma và u cystadenocarcinoma là hai trong số ít các u ruột thừa có thể chẩn đoán trước khi phẫu thuật. CT scan được chỉ định trong trường hợp khám thấy khối u ở bụng dưới phải cho thấy khối có mật độ gần giống nước. Siêu âm cho thấy cấu trúc phản âm không đều do hỗn hợp chất nhầy và chất không phản âm. Các dạng nang khác trong ổ bụng cũng có thể có các dấu hiệu hình ảnh học tương tự như u nang buồng trứng.

Điều trị u nhầy là phẫu thuật, mức độ cắt bỏ phụ thuộc vào tính chất mô học: Nếu là polyp tăng sản hay u nang (cystadenoma) thì chỉ cần cắt bỏ ruột thừa, nếu bản chất là u mucinous cystadenocarcinoma (lâm sàng phần lớn có triệu chứng di căn trong ổ bụng hay u giả nhầy phúc mạc) thì việc phẫu thuật bao gồm cả cắt đại tràng bên phải và các hạch di căn.

4. U adenocarcinoma ở ruột thừa

U adenocarcinoma nguyên phát ở ruột thừa rất hiếm, dưới 300 trường hợp được báo cáo trên thế giới. Phần lớn u bắt đầu từ các u tuyến (adenoma) có trước đó, giống như u đại-trực tràng. Tuổi trung bình thường là 50 tuổi, hay gặp ở nam. Bệnh nhân nhập viện thường có khối ở bụng phải, thiếu máu và có triệu chứng của viêm ruột thừa cấp. Các triệu chứng của viêm ruột thừa có thể do tắc nghẽn lòng ruột thừa do u (như trường hợp trên) hay do u xâm lấn gây tắc mạch, mạch máu hoặc gây lồng ruột. Hơn 70% các trường hợp không được phát hiện trước mổ, chỉ chẩn đoán được khi phân tích mô học. Adenocarcinoma của ruột thừa, cũng giống như carcinoma ở đại tràng, lan rộng bằng cách xâm lấn tại chỗ, theo mạch máu và mạch bạch huyết. Vị trí thường hay di căn nhất là khoang bụng, sau đó là hạch, gan, buồng trứng, thành bụng, phổi.

Phương pháp điều trị chính thường là cắt ruột thừa viêm trước, sau đó phẫu thuật lần hai để cắt bên phải đại tràng và hạch di căn.

5. Về tiên lượng bệnh

Đối với bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt bỏ đại tràng phải kèm ruột thừa, do đó cần phối hợp với hóa liệu pháp bổ sung cho bệnh nhân theo thống kê, 40-50% bệnh nhân sống thêm 5 năm. Một số báo cáo khác tỷ lệ sống sau 5 năm lên đến 80% mặc dù ung thư ruột thừa đã lan tràn vào ổ bụng nếu được trị phẫu thuật loại bỏ khối u kèm hóa trị liệu.

Trên đây là những thông tin cung cấp tới cho bạn đọc về bệnh u ruột thừa, với phương pháp chẩn đoán và hướng điều trị, hy vọng người bệnh sẽ được chữa trị bệnh hiệu quả.